Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng, sinh sản và kết quả chọn lọc đàn hạt nhân gà Mông (xương đen, thịt đen) thế hệ thứ nhất tại tỉnh Cao Bằng. Kết quả cho thấy đàn gà thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi miền núi, tỷ lệ nuôi sống (TLNS) đạt 91,33% ở giai đoạn 0 - 8 tuần tuổi và đến 20 tuần tuổi TLNS gà mái đạt 90.51% gà trống đạt 91.02%. Khối lượng cơ thể đạt trung bình 659,16 g (trống) và 609,36 g (mái) tại 8 tuần tuổi; đến 20 tuần tuổi đạt 1.649,03 g (trống) và 1.251,22 g (mái), thể hiện tốc độ sinh trưởng ổn định. Công tác chọn lọc đã cải thiện rõ rệt khối lượng cơ thể và độ đồng đều của đàn: tại 8 tuần tuổi, khối lượng đàn chọn lọc đạt 759,49 g (trống) và 645,18 g (mái), tăng tương ứng 100,33 g và 35,82 g so với đàn quần thể; hệ số biến dị giảm từ 14,44% xuống 7,59% (trống) và từ 12,75% xuống 9,40% (mái). Tại 20 tuần tuổi, khối lượng đàn chọn lọc đạt 1.802,80 g (trống) và 1.329,76 g (mái), tăng tương ứng 153,36 g và 78,54 g; hệ số biến dị giảm từ 10,13% xuống 5,21% (trống) và từ 11,16% xuống 6,19% (mái), cho thấy hiệu quả rõ rệt của chọn lọc. Về sinh sản, gà bắt đầu đẻ ở 142 ngày tuổi, đạt đỉnh tỷ lệ đẻ 42,71% tại 33 tuần tuổi; năng suất trứng đạt 83,08 quả/mái/chu kỳ với tiêu tốn thức ăn 4,26 kg/10 trứng. Tỷ lệ trứng có phôi đạt 90,06% và tỷ lệ nở/trứng có phôi đạt 81,0%. Kết quả nghiên cứu khẳng định đàn hạt nhân gà Mông thế hệ I có khả năng sinh trưởng và sinh sản ổn định, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật trong công tác chọn lọc và bảo tồn giống.